Truyện tình ở trang web TruyệnNgônTình.net tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, với nhiều thể loại hấp dẫn. Cùng nhau đắm chìm trong cảm xúc của tình yêu nào các bạn ơi!
Truyện tình » Truyện dài - Tiểu thuyết » Mùi vị quê hương » Phần 45

Mùi vị quê hương

Phần 45

Quả bưởi

Mẹ tôi sinh em Dũng vào mùa bưởi. Hôm ấy, cúng mụ cho em, bà ngoại mang đến một con gà và một quả bưởi đào rất to – giống bưởi quý bà trồng từ thời con gái. Múi bưởi chắc nịch, tép căng mọng chen nhau sau lớp áo lụa hồng. Vị bưởi sao mà ngon thế, ngọt ngọt, chua chua, nhai trong miệng vừa giòn vừa mát. Mẹ tôi ném một nắm hạt bưởi vào góc vườn.

Thế rồi không ai để ý đến nữa. Ít lâu sau, khi đào giun cho gà, tôi thấy mười hai cây bưởi con chen chúc ở đó. Tôi mách cho mẹ biết. Mẹ nhổ bớt mười một cây bưởi đi, chỉ để lại cây lớn nhất, đã ra nhiều lá nhất. Rồi mẹ lấy que cắm chung quanh cho gà khỏi bới. Cây bưởi non bị cớm bên cạnh là mấy cây ổi già – nên cứ cao vồng lên, gầy như đứa trẻ còi. Mãi đến năm lên lớp bốn, một hôm ra vườn tôi bỗng thấy mùi hoa bưởi thơm lừng. Cây bưởi nó gọi tôi đấy: Tôi ngước lên. Cây bưởi đã ra một tán lá xanh nõn, điểm mấy bông hoa trắng xinh xinh, chẳng khác nào cô bé cao gày làm dáng đeo khuyên vậy.

Tôi thương cây bưởi quá.

Tôi viết thư cho bố biết. Đến Tết bố tôi về phép, bố bàn với mẹ, rồi bố mang dao ra đốn hết mấy cây ổi cằn cỗi ép quanh gốc bưởi. Mùa xuân, rồi mùa hè, cây bưởi non đã khỏi bị cớm, tha hồ tắm gội ánh nắng và nước mưa, lớn nhanh vùn vụt. Gốc cành nó đều mập ra. Tán nó xòe rộng mỡ màng. Đầu năm nay, cây bưởi đơm đầy hoa trắng, thơm ngào ngạt. Ngày thì ong và bướm đến. Tối thì con chim gọi vịt thích đậu trong tán lá bưởi để kêu “vít! Vít!” Thâu đêm. Mẹ tôi bảo nhất định cây bưởi sẽ bói quả. Đúng như vậy thật. Rằm tháng tám, mẹ cắt được năm quả to, nặng trịch. Để bày cỗ trông trăng, và để liên hoan mừng em Dũng mới được vào Đội. Bố tôi đóng ở biên giới không về được. Còn tất nhiên bà ngoại tôi có đến. Như mọi lần, bà nâng trong rổ ra một quả bưởi thật to. Bà bảo:

– Đây, bà cho chị Mai em Dũng để bày cỗ… Mẹ tôi cười, trỏ lên bàn thờ, nói:

– Bà ơi, trên kia cũng là bưởi của bà đấy. Bà có nhớ hôm cúng mụ cháu Dũng, bà mang đến một quả bưởi không? Thế là tôi liến láu tranh phần kể cho bà nghe về những hạt bưởi, về cây bưởi non, về chuyện bố tôi đẵn những gốc ổi cằn. Bà cười hiền hậu, vuốt tóc tôi. Còn cu Dũng thì ở nhà buổi tối cũng quàng khăn đội viên vào cổ, ra điều “vênh” lắm.

Thế rồi mọi người trải chiếu ra sân ngồi. Trăng lên. Gió mát. Đến giờ phá cỗ, mẹ và bà gọt bưởi. Tôi thì đun nước, pha trà. Ngồi giữa sân trăng, tôi thấy sao mà vui thế. Quả bưởi tròn. Mặt trăng tròn. Mặt em Dũng tròn.

Thế nào tôi cũng phải viết thư cho bố tôi mới được.


Người vợ mù

Tôi biết vợ chồng nhà ấy cũng là nhờ ở một sự kiện ngẫu nhiên: Họ dùng cửa nhà tôi làm nơi hội họp.

Hồi đó, tôi ở Ninh Giang, một phủ lỵ khá lớn, một bén tàu thủy khá sầm uất trên con sông Chanh. Cách tiêu khiển của tôi là chiều tối ra bờ sông xem tàu tới, tàu đi, giữa một cảnh náo nhiệt với những tiếng ồn ào gào thét của bọn bán bánh giò và bọn mời khách trọ, với những lời đe dọa hách dịch của mấy chú lính tuần cảnh, lính thương chính đến hỏi thẻ và khám soát hành lý.

Nhưng từ ngày tôi để ý đến vợ chồng người mù, thì ở Ninh Giang, đối với tôi, không còn sự tiêu khiển nào thú vị hơn là được ngắm đôi uyên ương ấy chuyện trò với nhau: Một cảnh tượng cảm động thân mật và rất nên thơ.

Tôi không rõ cửa nhà tôi được họ chọn làm nơi hò hẹn từ bao giờ, và vì sao họ lại chọn cửa nhà tôi. Nhưng một buổi sáng mùa đông dậy sớm, ra hiên gác tỳ tay lan can nhìn xuốn, tôi thấy hai cái bóng đen đen đứng trên hè đường, dưới làn mưa phùn giá rét. Một lát sau, người đàn ông bảo người đàn bà:

– Mười hai giờ bà chờ tôi ở đây nhé!

Lời nói dõng dạc trang nghiêm như dọn hạng người sống trong những xã hội cao quý. Rồi mỗi người đi một ngả. Văng vẳng tôi nghe rao câu quen tai:

– Ai muối mua!

Và tôi nhớ ngay ra ông lão bán muối mà tôi vẫn thường gặp lang thang trong các phố.

Mười hai giờ trưa khi cuyến ô tô hàng ngày chạy Hải Dương bắt đầu mở máy, quả nhiên một người đàn bà già và mù, áo xống gọn gàng và sạch sẽ, tay cầm cái ra, rờ lần các cửa xe, rời rạc xin tiền.

Tôi nghĩ thầm:

“Không phải ăn mày lành nghề”

Xe đi khỏi thì người bán muối buổi sáng cũng vừa đến nơi. Và tôi hiểu vì sao bọn họ chọn giờ ấy làm giờ họp mặt: Giờ ô tô.

Luôn một tuàn lễ như thế, hôm nào cũng đúng sáu giờ sáng và mười hai giờ trưa là hai vợ chồng người mù tới cửa nhà tôi đứng nói chuyện. Họ không hề sai hẹn. Và tôi tò mò lưu ý đến họ, vì họ nói rất to, như chẳng cần gì ai, hơn nữa, như coi nơi hè đường là chón phòng riêng của họ.

Họ có nhà riêng hay không, và nếu có, thì nhà riêng họ ở đâu, tôi khoogn rõ. Nhưng nghe chuyện họ, tôi biết rằng gia đình họ chỉ có hai vợ chồng: Chồng làm nghề bán muối, vợ theo nghề ăn xin.

Gặp nhau, họ vui vẻ mỉm cười hỏi thăm tin tức nhau, như hai người bạn thân xa vắng lâu ngày và mong nhớ nhau từng phút từng giây. Lần nào người chồng cũng bắt đầu:

– Bà đấy ah? Thế nào, bà làm ăn có khá không?

Người vợ trả lời chẳng qua mấy câu này: “Cũng khá, ông ạ” hay ” Hôm nay làm ăn chẳng ra gì”.

Rồi bà lão ngồi thuật cho chồng nghe hết những việc đã xảy ra trong mấy giờ đồng hồ đi “làm ăn”. Bà ta kể chuyện rất vui vẻ, thỉnh thoảng lại chêm một câu bình phẩm, một câu khôi hài, khiến người chồng khúc khích cười, chừng cốt để làm đẹp lòng vợ.

– Ông ạ, con mẹ Phúc Hòa Đường nó lại nhiếc tôi soa không kiếm việc mà làm ăn, đi ăn mày thế này không biết nhục à?

– Con mẹ Phúc Đường Hòa ở phố Ninh Lãng có phải không bà?

– Phải đấy ông ạ. Nó thử mù như tôi xem ông nhỉ?

– Thế nó có cho bà đồng nào không?

– Nó mà cho nó nhiếc thì đã cam.

– Nó giàu nhất phố đấy, bà ạ.

– Giàu thế thì giàu làm gì? Giàu mà không biết thương kể đói khó, mù lòa. CŨng chả bền được đâu, ông nhỉ?

– Phải, bền thế nào cho được.

– Giá giời cho vợ chồng mình giàu như họ thì mình ăn ở rõ ra người giàu, có phải không ông?

– Phải, mình để của làm gì? Để của cho con nó phá nhé? Bà có biết không, thằng con nhà ấy nó phá chẳng mấy nỗi mà hết cơ nghiệp. Thôi thì đủ, bà ạ, cờ bạc, bợm đĩ, hút sách.

– Thế à ông?

Câu chuyện cứ thế kéo dài, u yếm như chuyện hai vợ chồng trẻ, đứng đắn như chuyện hai người có giáo dục, một điều ông ạ, hai điều bà nhỉ, và có tính cách thoogn tin tức như một tờ báo hàng ngày.

– Ông ạ, tôi nghe người nhà bà thông Đoan nói chuyện xe Ninh Thái bị bắt thuốc phiện, đâu những bốn, năm cân dựa. Chắc bị phạt khá tiền đấy nhỉ? Hay đi đêm, thế nào chả có ngày gặp mà ông nhỉ?

Tiếp chuyện bắt thuốc phiện, bà lão kể đến chuyện gia đình nhà ông đội Nhất: Vợ chồng ông độ chẳng ngày nào là không cãi nhau. Bà lão thì nhắc lại từng câu mắng nhiếc chửi rủa tục tằn của hai người, rồi bình phẩm:

– Cứ nghèo như vợ chồng mình lại êm thấm nhỉ ông nhỉ?

Ông lão bán muối cười rất có duyên, và có vẻ tự phụ nữa. Hôm nào người vợ phàn nàn không xin được một trinh nhỏ, thì người chồng tìm hết lời an ủi:

– Thôi, bà ạ, cần gì. Hôm nay tôi làm ăn nhờ giời khá lắm. Chúng mình chỉ mon iếm đủ ăn chứ có cần để dành tiền như họ đâu. Vậy bà về nhà mà nghỉ nhá. Tôi đã đong một hào gạo, mua một xu rau muống, một xu tương rồi đấy. Bà về thổi cơm, tôi bán hết chỗ này cũng về ngay đây.

Họ từ biệt nhau, cho tới sáu giờ sáng hôm sau lại vui mừng cũng nhau nói chuyện.

Nửa năm ròng, tôi tò mò đi sâu mãi vào cái đời đường hoàng và thâm sâu của cặp vợ chồng khốn khó. Có hôm tôi đã cố theo họ xem họ trú ngụ nơi đâu, nhưng họ như đôi chuồn chuồn sống nhởn nhơ khong tổ trên mặt nước ao tù.

Một dạo tôi thấy vắng bóng đôi uyên ương già ở trước cửa nhà tôi. Tối đoán chừng họ đã chọn một phố khác yên tĩnh hơn làm nơi góp chuyện hàng ngày.

Nhưng một buổi chiều đi chơi mát, tôi rẽ vào xem đền Chanh thì gặp ông lão lòa đương lom khom quét lá khô ở sân. Tôi vui mừng hỏi:

– Kìa ông bán muối. Hàng họ có khá không? Sao độ rầy tôi không gặp ông?

Người kia đứng thẳng lên, hấp háy cố nhìn tôi bằng cặp mắt gần tàn ánh sáng như ngọn đèn cạn dầu bập bùng chực tắt. Tôi hỏi luôn:

– Còn bà lão, vợ ông, lâu nay đi đâu?

Hai hàng lệ chảy ràn rụa trên đôi gò má răn reo. Tôi hiểu ngay rằng oogn già khốn nạn đương mang nặng trong lòng một nỗi khổ thống lớn lao.

Và tôi nghĩ ngay đến sự tử biệt…

– Ông buồn lắm phải không?

– Vâng, tôi không thiết sống nữa, thầy ạ. Bà lão nhà tôi, bà ấy bỏ tôi bà ấy đi rồi…

Tôi kinh ngạc:

– Bà ấy bỏ ông?

– Vâng, bà ấy chết rồi, còn đâu!

Người ấy cúi xuống quét sân, nói tiếp:

– Hơn bốn mươi năm giờ ăn ở với nhau, chả có điều tiếng gì… bây giờ bà ấy bỏ bà ấy đi một mình.

Lúc từ biệt tôi đãi ông lão khổ sở ấy một hào nhưng ông ta lắc đầu xua tay:

– Tôi lấy tiền làm gì nữa. Ngày xưa có vợ có chồng, tôi mới phải vất vả làm ăn. Chứ bây giờ còn một thân một mình, thì tôi chỉ nhờ cửa thánh ngày hai bữa cơm thừa canh cặn đủ no… để chờ ngày được gặp mặt bà lão tôi nơi suối vàng.

Dù cảm động đến đâu tôi cũng không thể giấu nổi cái mỉm cười: Tôi nhận thấy ngôn ngữ ông lão bán muối vẫn còn đứng đắn và kiểu cách như xưa, khi ngồi trò chuyện với người vợ mù ở trước cửa nhà tôi.

Tags: , , ,

Bình luận

Có thể bạn cũng muốn đọc

Thể loại

Top 10 truyện hay nhất